Mỗi người chỉ có được một phần thời gian, trong sự mãi mãi của vũ trụ, mà Thượng đế ban cho, để sống đời sống của mình, để làm công việc của riêng mình, cho dù họ là ai, một nghệ sĩ, hay một người bình thường. Song, thật kỳ diệu, là con người có thể chết đi, nhưng đôi khi những gì họ sáng tạo ra lại sống mãi với muôn đời.
|
||||||
|
Cập nhật ngày 20 tháng 9 năm 2006 lúc 7:06 am (GMT+7) |
||||||
Ảnh: Bridget Jones's Diary - một trong những tác phẩm đầu tiên của trào lưu chick lit. Ảnh: Amazon. "Thời kỳ đầu, tiểu thuyết chick lit thường là câu chuyện về những “cô nàng thành thị độc thân”, nhưng đến nay, tôi cho rằng, thể loại văn học này đề cập đến mọi đối tượng, từ những “cô nàng độc thân trong thành phố”, “những mệnh phụ ngoại ô” đến những goá phụ mơ màng về quãng đời tươi trẻ của mình”, Jennifer Weiner, tác giả của những sáng tác nổi tiếng thuộc dòng văn chick lit như Good in Bed, In Her Shoes và The Guy Not Taken: Stories, khẳng định. Marian Keyes, một trong những tác giả được coi là người khai sinh ra thể loại này, còn đi xa hơn khi đánh giá về sáng tác văn học chick lit. “Tôi cho rằng đây là một trào lưu văn học nghiêm túc. Nó diễn đạt những băn khoăn của một thế hệ phụ nữ. Khi không thể tìm được câu trả lời cho những thắc mắc của mình trên báo và tạp chí, tôi tìm đọc truyện của những người bạn có hoàn cảnh như mình”, cô nói. Trước một số ý kiến cho rằng, chick lit chỉ là các tác phẩm rẻ tiền, mang tính giải trí, câu khách bằng những trang bìa bắt mắt, Emily Giffin, tác giả của Something Borrowed, khẳng định: “Thật thiển cận và hẹp hòi khi coi tất cả những cuốn sách có trang bìa hồng hồng, lãng mạn đều mang nội dung tương tự nhau. Điều quan trọng mà chúng ta phải nhớ là chất lượng mới chính là yếu tố quyết định sự khác nhau giữa tác phẩm này với tác phẩm khác, ngay cả khi chúng nằm trong cùng một thể loại”. "Chick lit là sản phẩm của ngành công nghiệp xuất bản. Đó là sáng tác của các tác giả nữ, viết về giới nữ và dành cho giới nữ. Dòng văn học này đề cập đến một phạm vi đề tài khá phong phú và hút khách”, Nicola Kraus, đồng tác giả với Emma McLaughlin trong tác phẩm The Nanny Diaries, nhận định. Văn học chick lit manh nha từ Watermelon (1995) của Keyes và đặc biệt hình thành một cách rõ nét với sự xuất hiện của Bridget Jones's Diary (1996) của Helen Fielding. Sự thành công của hai cuốn sách đã kéo theo một trào lưu viết truyện phỏng theo phong cách sáng tác này. Ngành công nghiệp xuất bản cũng có công trong việc thúc đẩy sự phát triển của dòng văn học chick lit. Các chi nhánh của những tên tuổi hàng đầu trong giới làm sách như Red Dress Ink của Harlequin, Downtown Press của Simon & Schuster và Strapless của Kensington đều vào cuộc. Được tiếp sinh lực, thể loại này còn sản sinh ra những tiểu loại ăn theo như teen chick lit (chick lit của tuổi mới lớn) và ethnic chick lit (chick lit của các cộng đồng khác nhau). Thể loại văn học dành cho giới trẻ này còn phát triển đến độ, một số tác giả, sau khi giành được những thành công nhất định, đã quay sang viết sách truyền nghề lại cho các thế hệ sau, dù trước đó, họ được các bậc tiền bối dạy rằng, viết văn không bao giờ có công thức chung. Sarah Mlynowski, tác giả của Me vs. Me chấp bút cùng biên tập viên chuyên về dòng văn chick lit viết See Jane Write: A Girl's Guide to Writing Chick Lit; tác giả của L.A. Woman, Cathy Yardley, viết Will Write for Shoes: How to Write a Chick Lit Novel. Trong phong trào viết truyện chick lit rầm rộ như hiện nay, bất chấp việc tác phẩm của mình viết ra có bị xếp xó hay không, các tác giả theo đuổi dòng văn học này vẫn đang nỗ lực sáng tạo ra những tác phẩm xuất sắc. "Trong khi ý thức rõ, chick lit là những tác phẩm mang tính giải trí, tôi cho rằng, việc viết sách giải trí chẳng có gì là xấu cả”, Weiner bày tỏ. Còn Keyes lại tỏ ra tự hào khi được gọi là nhà văn chick lit. “Thể loại văn học nà
y đem đến cho phụ nữ cảm giác tự hào vì mình là phái đẹp, tự hào vì những mối bận tâm mà chỉ họ mới có”, cô nói. |
Thế giới đàn ông ngọt ngào#1post entry
authour:
Hoàng Mạnh Tân
Dạo này chị hay đứng trước gương. Nhiều đến nỗi, chưa bao giờ chị thuộc kỹ thân thể mình đến vậy. Mỗi lần chị lại phát hiện thêm một điều gì đó.
Thường thì những
phát hiện chẳng có gì mới. Tỉ như số nếp nhăn trên vầng trán rộng - chị không
thích những đường rãnh cắt chia vầng trán. Nó thật quá. Thật như quãng thời
gian tính được khắc vào đời chị. Nhưng chị vẫn đếm kỹ càng. Đếm thật kỹ để tin
rằng mình sắp về chiều...
"Mẹ, con đi đây" - Tiếng con trai chị. "Đi đâu?". "Đến sinh nhật bạn con".
"Sinh nhật à?" - Chị hỏi thì thầm và buông rơi cái lược.
Mọi lần thấy chị soi gương và trang điểm, thể nào con trai chị dù đang bận mấy
cũng kiếm cớ dắt xe đi. Chị phiền lòng vì điều ấy. Nó biết nhà có khách. Và
không muốn giáp mặt bạn của chị. Không ít lần nó nói thẳng: "Mẹ này, mấy ông
bạn của mẹ ấy mà, chướng mắt lắm. Bao giờ cái trò này mới chấm dứt?".
Biết bao giờ mới chấm dứt. Lời nói của con xát muối vào ruột gan chị. Nhưng chị
im lặng. Có những nỗi đau không thể chia sẻ. Nhiều lần vào những lúc thật dễ
chịu, chị đã tâm tình với con, cố gợi ở nó một chút cảm thông. Một chút ít thôi
để chị có đủ can đảm và tỉnh táo quyết định. Quyết định cái việc bây giờ đã trở
thành quá hệ trọng với chị: từ chối hay nhận lời cầu hôn của những người đàn
ông tìm đến với chị.
Chị nhặt vội cái lược, quào qua quít mái tóc. Chị liếc mắt về phía con. Nó có
vẻ bồn chồn. Mặt nó căng thẳng. Hay nó lại giận chị. Tuần trước khi bạn chị
đến, nó chào chiếu lệ rồi lạnh lùng dắt xe đi, thậm chí không xin phép chị -
điều chưa từng xảy đến. Thằng Quỳnh vốn là đứa trẻ khuôn phép. Ngay cả khi chị
và chồng ly hôn, dù ở trong trạng thái căng thẳng, nó vẫn xử sự đúng bổn phận
của một đứa con có giáo dục. Nó bình đẳng trong tình cảm, không thiên vị cha
hay mẹ
Hôm ấy, chị ngồi
đợi con rất lâu. Mãi khuya nó mới về. Nó thoáng ngạc nhiên. Giọng chị dịu dàng:
"Quynh, tại sao con lại thế?". "Con không biết. Con chỉ không thích họ". "Các
bác ấy có làm tổn hại gì đến con đâu. Họ là người tốt. Mẹ biết!". "Đấy là họ
tốt với mẹ. Họ cần phải thế. Còn với con? - Quynh nhìn thẳng vào mắt mẹ. Chị
thoáng rùng mình. Chị đã đọc được ý nghĩ của nó. Quynh cũng hiểu, nó vội vã tận
dụng cơ hội hiếm hoi ấy "Lòng tốt của họ là vô nghĩa. Cả họ nữa, vô nghĩa trước
con! Không! Không ai được phép chia sẻ tình cảm của mẹ với con!".
Chị ứ nghẹn một nỗi đau không ngờ: "Nhưng tại sao con lại tự cho con cái quyền
ấy?". "Ồ, mẹ quên rồi sao? Con đã hai hai tuổi. Chỉ ít tháng nữa con ra trường.
Tha lỗi cho con. Con đã không làm được gì để bố mẹ khỏi xa nhau. Nhưng bây giờ
thì con làm được. Con phải tự bảo vệ. Mẹ là tất cả của con".
Chị cười mà miệng méo xệch. Chị sững sờ nhìn đứa con yêu dấu - niềm an ủi còn
lại của chị. Nó đứng ngây trước chị, cao lớn, vụng về trong tư thế cứng rắn giả
tạo. Hình hài nó làm chị chạnh nghĩ đến người đàn ông từng là chồng chị. Chị
buột miệng: "Cha con vừa tổ chức đám cưới. Tại sao con không dùng quyền
ấy...".
Chị bừng tỉnh nhưng không kịp nữa. Chị thoáng thấy nó lúng túng. Hai tay nó ôm
lấy đầu. Cái thân hình cao lớn từ từ bệt xuống: Chị quay người cố bình thản
bước về phòng. Buông người xuống giường. Vậy là đã rõ, nó sẽ làm tất cả để ngăn
cản chị.
Cái lược một lần nữa rơi xuống đất. Chị chẳng buồn nhặt. Chị nhìn thân thể
mình. Vẫn thế, tuổi năm mươi, chị vẫn mảnh dẻ không khác mấy thời con gái. Cái
nhìn của chị bắt gặp cái nhìn của người trong gương. Vẫn thế. Nỗi trống vắng ùa
ngập.
Con trai chị vẫn bồn chồn. Nó đang suy nghĩ gì lung lắm. Chị định hỏi song lại
thôi. Có vẻ nó không để ý gì đến chị. Chị ngạc nhiên trước thái độ của con. Nó
vốn là đứa điềm tĩnh. Có chuyện gì nhỉ? Chẳng nhẽ nó lại hờn giận chị đến mức
thế. Không phải. Chị xua ngay ý nghĩ ấy. Nhưng ngay lập tức cảm giác nghèn
nghẹn lại chẹn xuống. Tủi buồn pha lẫn xót xa.
Ban nãy chị nghe không nhầm. Nó sẽ đi sinh nhật bạn nó. Không nhẽ nó lại quên
hôm nay cũng là ngày sinh của chị. Đã lâu chị không tổ chức sinh nhật. Nhưng
lần này... Có lẽ nào? Lúc nó chào chị dắt xe ra khỏi nhà, chị đã định nhắc nó,
nhưng rồi hờn tủi khiến chị nín lặng.
Chị tắt đèn, thắp lên năm ngọn nến. Mỗi ngọn nến tượng trưng một quãng đời mười
năm của chị. Phập phồng thứ ánh sáng của nến đỏ khiến chị hoảng sợ. Chị lại vội
vã bật đèn. Chị chợt nhớ chưa có hoa. Không phải chị quên. Chị đợi hoa tặng của
con trai. Ngẫm nghĩ giây lát, chị với trên giá sách của con chùm hoa uất kim
hương bằng nhựa. Những bông hoa đỏ hồng, dài dại. Càng dại khi nó bị phủ một
lớp bụi mờ. Không sao. Nó đúng với tình cảnh chị.
Chùm hoa này là quà tặng của chồng chị nhân một chuyến công tác ở Bắc Âu mấy
năm về trước. Chị không thích hoa giả. Nó đuồn đuỗn vô hồn. Chị nhìn thật kỹ
những bông hoa đã được lau hết bụi. Trông nó như mới. Đúng thôi, cái gì giả mà
chẳng mới. Chị phân vân. Những bông uất kim hương này không đến nỗi đáng ghét
như chị tưởng. Ít nhất giữa những ngọn nến đỏ lúc này, nó làm dịu đi bầu không
khí hiu hắt đang bủa vây chị. Và dù sao, nó, những bông hoa giả, lại gợi cho
chị nhớ về một quãng đời thực - quãng đời không thể nói là không hạnh
phúc...
Đó là một liên tưởng chợt đến với tôi khi nhìn vào danh sách các nhà văn được đề nghị xét tặng giải thưởng Nhà nước trong đợt mới này. Làm một phép tính đơn giản, có thể nhận thấy rõ rằng, có tới 19/49 nhà văn đã qua đời ở những thời điểm khác nhau. Và hơn 1/3 trong số 49 tác giả đó có số lượng tác phẩm rất khiêm tốn.
Trước tiên là trả lời câu hỏi vì sao một số nhà văn của chúng ta có một số lượng tác phẩm khiêm tốn, so với các đồng nghiệp của họ? Câu trả lời không mấy khó khăn, rằng, đối với một số nhà văn, số lượng tác phẩm của họ khiêm tốn là do tuổi thọ của họ ngắn ngủi. Từ đầu nguồn nền văn học cách mạng đến những năm chống Pháp rồi chống Mỹ, hầu hết các nhà văn hy sinh đều ở tuổi trên dưới 30.
Trong chống Pháp, đầu tiên có thể kể tới “người văn nghệ binh thứ nhất ngã xuống ở chiến trường” là Trần Đăng, tiếp đến là các nhà văn: Thúc Tề, Trần Mai Ninh, Hồng Nguyên, Thâm Tâm, Thôi Hữu, Hoàng Lộc, Nam Cao…
Đến thời chống Mỹ, có các nhà văn liệt sĩ: Lê Anh Xuân, Lê Vĩnh Hòa, Dương Tử Giang, Nguyễn Thi, Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Trọng Định, Chu Cẩm Phong, Nguyễn Mỹ, Nguyễn Hồng, Vũ Đình Văn… Những người lính-nhà văn ấy đã nằm xuống khi tài năng của họ đang vào độ rực rỡ nhất, chín muồi nhất.
Trước khi là nhà văn, nhà thơ, những người viết ấy đều là những người lính, những cán bộ làm nhiều công tác khác nhau. Điều kiện để sáng tạo của họ hết sức khó khăn.
Họ viết chủ yếu trên đường đi đánh giặc, trong và sau các trận đánh. Trong hoàn cảnh chật vật đó, số lượng tác phẩm có được đã là kết quả của một sự nỗ lực sáng tạo rất lớn đối với mỗi nhà văn và đối với cả một nền văn học.
Là một người sinh ra sau chiến tranh, ngưỡng mộ các nhà văn-chiến sĩ, lần giở lại những trang tư liệu cũ, tôi có một nhận xét rằng, trong thời gian đầu kháng chiến chống Pháp, khi đông đảo các nhà văn, nhà thơ tiền chiến đi theo cách mạng, rồi kháng chiến mà vẫn chưa có những sáng tác được công chúng chấp nhận, thì những “hiện tượng một bài” đã tạo nên dấu ấn đặc trưng của văn học 9 năm chống Pháp.
Đó là các tác phẩm Nhớ máu (Trần Mai Ninh), Đèo Cả (Hữu Loan), Nhớ (Hồng Nguyên), Viếng bạn (Hoàng Lộc), Chiều mưa đường số 5 (Thâm Tâm), Đêm nay Bác không ngủ (Minh Huệ), Thăm lúa (Trần Hữu Thung).
Một số trong các tài hoa vừa kể tới, như chúng ta biết, đã sớm ra đi.
Vào giai đoạn chống Mỹ, trên chiến trường lại xuất hiện một thế hệ người viết văn làm thơ mới. Tác phẩm của họ in dấu rất rõ những chặng đường gian nan của cách mạng, như Quê hương (Giang Nam), Mồ anh hoa nở (Thanh Hải), Bài ca chim Ch’Rao (Thu Bồn), rồi Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân) và các tác phẩm gửi về từ chiến trường của các tác giả Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Hoàng Nhuận Cầm…
Ngay từ đợt xét tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước đầu tiên, một số tác giả của các tác phẩm đó đã được nhận giải thưởng xứng đáng.
Trong đợt xét tặng Giải thưởng Nhà nước lần này có tên các tác giả Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán, Hữu Loan, Vũ Bằng, Hồ Dzếnh. Do hoàn cảnh cụ thể, đường đời cũng như hành trình sáng tác của họ không bằng phẳng, số lượng tác phẩm có thể không nhiều, nhưng giải thưởng trao cho họ là đánh dấu một chặng đường mới trong văn học của một đất nước thanh bình.
Công cuộc đổi mới của đất nước ta 20 năm qua, có thể ghi nhận, rất nhiều giá trị văn hóa có cội nguồn gắn với dân tộc đã được hồi sinh, phát triển và phát huy vai trò của nó trong đời sống đương đại.
Có thể, một bộ phận trong số các tác phẩm ấy dừng lại ở vai trò như là chứng tích của lịch sử. Nhưng, một số khác đã tham gia thực sự với đời sống tinh thần, tình cảm xã hội của ngày hôm nay như một tác phẩm đương đại với tất cả vẻ đẹp thanh xuân, tươi trẻ của chính nó.
Nói một cách khác đi, thì có những tác phẩm người đọc sẽ dựa vào để đi tìm lại gương mặt quá khứ. Và quý giá hơn, là có những tác phẩm giúp cho con người hiểu thêm về cuộc sống hiện tại và vịn vào, trên hành trình đi tới tương lai.
Đó cũng chính là những Kim tự tháp nhiều quy mô trong văn học Việt Nam hiện đại.
Nhờ cách gìn giữ nền tảng và phát huy cái mới, dòng chảy văn học trong thế kỷ mới sẽ tiếp tục, với những tác phẩm xứng tầm với thời đại mà nó được sinh ra.
Cũng giống như các thiên tài, các tác phẩm văn học đích thực khi đã gắn bó với số phận đất nước, số phận nhân dân sẽ luôn còn được đón nhận xứng đáng trong tương lai.

